Trang chủ
Kỷ niệm 60 năm thành lập Học viện ÂNQGVN
Giới thiệu
Tổ chức
Ba công khai
Hoạt động
Tuyển sinh
Đào tạo
Biểu diễn
Nghiên cứu
Thông tin nghiên cứu KH
Luận án Tiến sĩ
Luận văn Thạc sĩ
Biểu mẫu đăng ký NCKH
Mẫu đăng ký GS, PGS
Giáo trình
Hợp tác quốc tế
Liên hệ

Giảng viên
Sinh viên
Thư điện tử
Tin ảnh

Lượt truy cập: 5284920
Luận văn Thạc sĩ Thứ tư, 22/11/2017

Tác giả: Nguyễn Thành Nhân
Đề tài: Giảng dạy các bài tập kỹ thuật cho đàn Nhị hệ Trung cấp tại Học viện âm nhạc quốc gia Việt Nam
Chuyên ngành: PPGDCNAN (Đàn Nhị)
Mã số: 60.21.02.02
Người hướng dẫn: TS.NSND. Nguyễn Thiếu Hoa
Ngày đăng: 04/10/2016

Toàn văn Luận văn

Tóm tắt Luận văn:

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài:

 Việt nam có một nền âm nhạc cổ truyền hết sức phong phú, đa dạng và giàu tính nghệ thuật, cùng với tâm lí người Việt đậm đà tính cộng đồng, yêu cái đẹp, yêu âm nhạc. Trong đó, cây đàn Nhị được biết đến và gắn bó với truyền thống sinh hoạt âm nhạc của dân tộc Việt Nam từ hàng ngàn năm nay. Với tính năng độc đáo, đa dạng trong cách thể hiện cộng với âm sắc riêng, nó còn phản ánh được tâm tư, tình cảm của người Việt. Do đó, đàn Nhị xuất hiện trong hầu hêt các thể loại âm nhạc cổ truyền và sân khấu truyền thống như: Tuồng, chèo, cải lương, ca Huế, hát Xẩm...Trong mỗi loại hình nghệ thuật nó luôn thể hiện được màu sắc riêng. Ngày nay, nghệ thuật diễn tấu đàn Nhị đã có những bước phát triển mạnh mẽ, đột phá, kế thừa những kinh nghiệm và tri thức của các thế hệ tiền bối, sau đó phát triển thêm bởi những sáng tạo trong biểu diễn qua các thể loại khác nhau như: dân ca, ca khúc, tác phẩm mới,.. trong đó, kỹ thuật đóng vai trò rất quan trọng, nó chuyển tải khả năng biểu cảm âm nhạc của người nghệ sĩ đến với người nghe và góp phần đến thành công của tác phẩm.  Để có nền âm nhạc dân tộc hiện đại mang tính chuyên nghiệp cao trong tương lai, chúng ta phải xây dựng chiến lược phát triển đồng bộ về mọi mặt cả về công tác đào tạo âm nhạc và giáo dục thẩm mỹ âm nhạc cho thế hệ trẻ nhằm xây dựng một “hậu phương” vững chắc cho nền âm nhạc Việt Nam phát triển mạnh mẽ và bền vững. Với mong muốn được góp phần vào việc đưa những giá trị âm nhạc đích thực trở về quỹ đạo của nó và hướng đến việc xây dựng một phương pháp đào tạo đồng bộ, khoa học nhằm góp phần củng cố chất lượng đào tạo đảm bảo tính chiến lược và định hướng lâu dài cho sự nghiệp phát triển nghệ thuật âm nhạc, chúng tôi thấy cần phải nghiên cứu kỹ thuật, nó có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với cây đàn Nhị. Từ trước tới nay, phần lớn các giảng viên làm công tác giảng dạy đều nghiên cứu về phương pháp truyền nghề, vận dụng kinh nghiệm bản thân và áp dụng giảng dạy cho học sinh.

 

2. Lịch sử đề tài:

Để tiến hành triển khai đề tài nghiên cứu, chúng tôi đã tìm đọc, tham khảo một số công trình nghiên cứu :

- Luận văn " Đàn Nhị với việc giảng dạy phong cách âm nhạc dân gian và cung đình Huế " của Ths. Đoàn Công Chuân -2005. Nội dung nghiên cứu về nguồn gốc xuất sứ và khả năng diễn tả cũng như hình thức cấu tạo và kỹ thuật diễn tấu của cây đàn Nhị. Ông còn đưa ra những nhận xét về các thủ pháp kỹ thuật nói chung của cây đàn Nhị và hệ thống các bài bản cùng phong cách diễn tấu của các loại hình nghệ thuật âm nhạc truyền thống Bắc-Trung-Nam, đặc biệt là hệ thống bài bản và phong cách diễn tấu âm nhạc dân gian và cung đình Huế.

  - Luận văn " Một số vấn đề về biểu diễn và giảng dạy đàn Nhị Việt Nam " của Ths. Nguyễn Quang Duy -2014. Nội dung nghiên cứu là các vấn đề về họ hàng cây đàn Nhị Việt Nam và quá trình du nhập, hình thành của nghệ thuật diễn tấu đàn Nhị. Đồng thời, nghiên cứu phương pháp giảng dạy và biểu diễn của cây đàn Nhị.

  - Luận văn " Nhạc chèo truyền thống trong giảng dạy cho học sinh-sinh viên chuyên ngành đàn Nhị tại Học viện âm nhạc quốc gia Việt Nam " của Ths. Nguyễn Hải Đăng-2014. Nội dung nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển nhạc Chèo, nét đặc trưng, cấu trúc làn điệu Chèo. Đổi mới nội dung giáo trình, phương pháp dạy, nâng cao chất lượng diễn tấu phong cách Chèo.

  Từ những công trình nghiên cứu đó cũng đã giúp tôi nhiều khi tiến hành triển khai đề tài nghiên cứu của mình.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  - Đối tượng nghiên cứu của đề tài: kỹ thuật đối với nghệ thuật diễn tấu đàn Nhị. Kỹ thuật trong tác dân ca, nhạc cổ, tác phẩm mới.. Giáo trình bài tập kỹ thuật và thực trạng giảng dạy. Bổ sung một số bài tập kỹ thuật bổ trợ cho tác phẩm, và nâng cao chất lượng giảng dạy (phuong pháp giảng dạy các bài tập kỹ thuật cho đàn Nhị).

  - Phạm vi nghiên cứu của đề tài: chất lượng giảng dạy các bài tập kỹ thuật cho đàn Nhị hệ Trung Cấp tại Học viện âm nhạc quốc gia Việt Nam.

4. Mục tiêu nghiên cứu:

 Mục tiêu nghiên cứu chính là đưa ra các giải pháp giảng dạy các bài tập kỹ thuật cho đàn Nhị hệ Trung Cấp tại Học Viện âm nhạc quốc gia Việt Nam sao cho hiệu quả nhất.

5. Phương pháp nghiên cứu:

Để hoàn thàng luận văn, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau :

+ Phương pháp nghiên cứu lý thuyết, bao gồm việc thu thập tài liệu, giáo trình giảng dạy của các cơ sở đào tạo nhạc cụ truyền thống và đặc biệt là chuyên ngành đàn Nhị, để từ đó phân tích và tổng hợp nhằm tìm ra những căn cứ lý thuyết cho đề tài.

+ Phương pháp nghiên cứu thực tiễn ( quan sát, tổng kết kinh nghiệm, thực hành, đánh giá).

+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm.

Ngoài ra tiến hành trao đổi, thu thập ý kiến của giáo viên và bạn bè đồng nghiệp.

6. Những đóng góp của luận văn:

Luận văn đã đề xuất được một số giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy các bài tập kỹ thuật cho đàn Nhị. Các giải pháp phù hợp với thực tiễn đào tạo tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, trên các phương diện chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, đổi mới phương pháp giảng dạy, phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập.

 7. Bố cục luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận cũng như phần phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 2 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực trạng giảng dạy các bài tập kỹ thuật cho đàn Nhị hệ Trung Cấp.

Chương 2: Các giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy.

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY

CÁC BÀI TẬP KỸ THUẬT CHO ĐÀN NHỊ HỆ TRUNG CẤP

1.1. Cơ sở lý luận:

1.1.1 Vai trò của kỹ thuật trong nghệ thuật diễn tấu đàn Nhị:

Nghệ thuật diễn tấu được tổng hợp qua nhiều thế kỷ hình thành và phát triển lâu dài trong âm nhạc dân gian cổ truyền va âm nhạc mới.. Từ những trải nghiệm thực tế kết hợp với những lý thuyết âm nhạc, người nghệ sĩ đã từng bước hoàn thiện nghệ thuật diễn tấu của bản thân. Trong nghệ thuật diễn tấu đàn Nhị, kỹ thuật giữ một vị trí rất quan trọng, cũng giống như các nhạc cụ khác, tất cả kỹ thuật đều được sử dụng để thể hiện những cảm xúc âm nhạc. Chỉ có cảm xúc âm nhạc mới đi vào lòng người và chinh phục con người. Sử lý tốt các kỹ thuật, người nghệ sĩ mới chuyển tải được khả năng biểu cảm một cách gần gũi nhất đến với khán giả. Bên cạnh đó, người nghệ sĩ cần kế thừa những kinh nghiệm và tri thức của các thế hệ trước, sau đó phát triển thêm bởi những sáng tạo trong biểu diễn mỗi bài bản (nhạc cổ và nhạc mới). Từ đó, với những kiến thức nghề nghiệp và kinh nghiệm được đúc rút, người nghệ sĩ đàn Nhị sẽ từng bước hình thành nên sự độc đáo trong nghệ thuật diễn tấu qua cách sử dụng kỹ thuật để thể hiện tâm hồn của mình.

1.1.2. Kỹ thuật trong dân ca 3 miền: 

Dân ca là một thể loại âm nhạc cổ truyền của Việt Nam, giàu bản sắc dân tộc, có nhiều làn điệu từ khắp các miền cộng đồng người. Trong sinh hoạt cộng đồng người trong vùng đất của họ, thường là làng xóm hay rộng hơn là cả một miền, các làn điệu dân ca thể hiện phong các bình dân, sát với cuộc sống lao động con người. Thường biểu diễn ở các lễ hội, hát làng nghề, thường ngày cũng được hát lên để động viên nhau, hay trong tình yêu đôi lứa, trong tình cảm giữa người với người. Các bài dân ca có giai điệu đẹp, tiết tấu đơn giản, làm cho người nghệ sĩ càng có cơ hội tiếp xúc, tìm hiểu với nhiều bài bản dân ca, từ đó họ ngấm chất, biết cách xử lý các bài bản, khiến cho người biểu diễn càng thể hiện được cái hồn của dân ca đó, và tiếng đàn của họ càng trở nên sâu lắng. Tuy nhiên, mỗi vùng miền có tính chất âm nhạc khác nhau nên sử lý kỹ thuật cũng khác nhau, thể hiện qua cách  "rung, vỗ, luyến láy, ngân nga". 

 

Ví dụ 1: Trích " Trèo lên quán dốc"

- Dân ca Bắc bộ: giai điệu tươi sáng, nhẹ nhàng. Sử dụng ngón rung, ngón láy, ngón vuốt.

Ví dụ 2: Trích " Bèo dạt mây trôi "

 

- Dân ca Trung bộ: giai điệu sâu lắng, êm dịu. Với tính chất âm nhạc khác dân ca Bắc bộ, sử dụng các kỹ thuật: rung chậm, vuốt, luyến láy ngân nga để tạo nên phần hồn của giai điệu.

Ví dụ 3: Trích " Lý thương nhau "

- Dân ca Nam bộ: giai điệu trữ tình, thơ mộng. Sử dụng với các kỹ thuật rung nhanh, vuốt, láy để thể hiện.

Ví dụ 4: Trích " Lý đất giồng "

1.1.3. Kỹ thuật trong nhạc cổ: 

- Nhạc Chèo:

Là loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian Việt Nam, ngôn ngữ đa thanh, đa nghĩa, giàu tính tự sự và trữ tình. Chèo có rất nhiều làn điệu, với các làn điệu mang tính chất vui tươi sẽ sử dụng kỹ thuật nhấn nhanh, láy, vuốt nhanh. Các làn điệu trữ tình, buồn thảm, man mác sử dụng kỹ thuật nhấn chậm (sâu), láy, vuốt chậm.

Ví dụ 5: Làn điệu vui tươi. Trích " Xẩm xoan " .

 

Làn điệu trữ tình, buồn rầu. Trích " Tò vò " .

 

 

- Nhạc Huế:

  Là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội. Nhạc nghi thức trong âm nhạc cung đình Việt Nam, nhạc tế lễ trong các đình làng. Hệ thống thang âm "Đô, rê (non), fa (già), son, la (non) " là hệ thống bao trùm đa số bài bản của âm nhạc truyền thống Huế, chứ không theo 12 âm bình quân. Nhạc Huế, được phân chia thành 2 loại: Điệu Bắc và Điệu Nam, mỗi Điệu có tính chất khác nhau. Điệu Bắc là những bài bản vui (sử dụng kỹ thuật nhấn nhanh, láy, vuốt nhanh), điệu Nam là những bài bản buồn thương, sầu oán (sử dụng kỹ thuật nhấn chậm sâu, láy, vuốt êm, nhẹ nhàng). Mỗi điệu có các hệ thống Hơi như sau:

+ Điệu Bắc có 4 hơi:

Hơi quảng: là hơi nhạc của những bài bản ít nhiều mang âm hưởng nét nhạc miền Nam Trung Quốc.

Hơi đảo: là hơi nhạc của những bài bản thuộc điệu Bắc nhưng có nhiều đoạn chuyển hệ thang âm (ngũ cung đảo).

Hơi thiền: là hơi nhạc của những bài bản mang âm hưởng xướng, tán, tụng trong âm nhạc Phật Giáo.

Hơi nhạc: là một trong những hơi quan trọng trong nhạc Huế, là hơi của những bài bản mang phong cách trang trọng, hùng tráng.

+ Điệu Nam cũng có 4 hơi: Hơi xuân, hơi thương, hơi ai, hơi oán.

Ví dụ 6: Điệu Bắc. Trích " Cổ bản ".

 

 Điệu Nam. Trích " Cổ bản dựng ".

- Nhạc tài tử cải lương:

Là loại hình sân khấu kịch hát, có nguồn gốc ở miền Tây Nam Bộ. Như chúng ta đã biết, hệ thống bài bản trong âm nhạc Đờn ca - Tài tử cũng được phân chia thành thể loại: hơi Bắc, hơi Nam, hơi Oán. Mỗi loại hơi đều có những đặc điểm về kỹ thuật : nhấn, láy, vuốt khác nhau để người ta có thể phân biệt được Hơi của mỗi bài bản.

Hơi Bắc: vui tươi, nhộn nhịp, (sử dụng kỹ thuật nhấn nhanh, vuốt nhanh)

Ví dụ 7:  Trích " Lý ngựa ô "

Hơi Nam: tính chất trang nghiêm, đồng thời được phân chia thành một số hơi cụ thể như (hơi Xuân, hơi Ai, hơi Đảo). Sử dụng kỹ thuật  nhấn sâu, láy, vuốt.  

  Ví dụ 8: Trích " Nam xuân "

Hơi Oán: bi ai, buồn thảm, than thở. (sử dụng kỹ thuật nhấn chậm, vuốt chậm).

 

Ví dụ 9: Trích " Văn thiên tường "

1.1.4. Kỹ thuật trong tác phẩm mới:

Nghệ thuật biểu diễn các tác phẩm mới (Âm nhạc có tác giả). Có sự khác biệt với các loại hình dân ca và nhạc cổ cả về cách xử lý âm thanh lẫn phong cách biểu diễn.

Khi diễn tấu các tác phẩm Việt Nam, cần phải biết cách rung (nhanh hay chậm),

vuốt, láy thế nào cho đúng với nội dung và ý tưởng mà tác giả muốn truyền tải. Những bài tác phẩm mang tính dân gian hoặc hơi hướng hiện đại thì phải sử lý kỹ thuật cho ra chất của tác phẩm đó. 

Khi đánh tác phẩm nước ngoài chuyển soạn cho đàn Nhị cần sử lý âm chuẩn thật chính xác,sạch sẽ, không lạm dụng sử dụng nhiều kỹ thuật rung, láy, vuốt, nếu không sẽ thành tác phẩm Việt Nam.

1.2. Thực trạng giảng dạy:

1.2.1. Nội dung giáo trình bài tập kỹ thuật.

Hiện nay giáo trình giảng dạy các bài tập kỹ thuật cho đàn Nhị hệ Trung Cấp là " Tuyển tập kỹ thuật cho Đàn Nhị " Trung tâm thông tin và Thư viện HVÂNQGVN của NSND Nguyễn Thế Dân. Có thể nói, cuốn sách này là tài liệu có tính hệ thống, phù hợp với tính năng của cây đàn Nhị đáp ứng được những yếu tố cơ bản làm cơ sở cho việc giảng dạy của giáo viên. Các bài bản được sắp xếp từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó. Giáo viên hoàn toàn chủ động trong việc lựa chọn bài phù hợp cho học sinh luyện tập. 

1.2.2 Tuyển tập kỹ thuật cho đàn Nhị: 

1.2.2.1.Các dạng bài tập cơ bản:

Hiện nay, Tuyển tập kỹ thuật cho đàn Nhị gồm: 11 phần

Phần 1 (11bài): 

Các bài tập phát âm (dây trong và dây ngoài). Bài tập bấm ngón 1,2,3,4

.

 Phần 2 (22 bài), Phần 3 (10 bài):

Các bài tập luyện ngón cho học sinh tăng độ linh hoạt ngón tay và nhớ được vị trí nốt bấm.

Phần 4 (10 bài): 

Bài tập thế tay 1: chuyển từ thế 1 đến thế 3.

Phần 5 (5 bài): 

Bài tập chuyển từ thế 1 đến thế 4.

 

 

 Phần 6 (6 bài):

Bài tập thế tay 2: gam 5 âm (chuyển từ thế 1 đến thế 4).

 Phần 7 (5 bài):

Bài tâp quãng cho học sinh nâng cao kỹ năng luyện ngón trên các quãng.

Phần 8 (15 bài) Các bài tập kết hợp để học sinh luyện tập kỹ thuật tay phải và tay trái.

Description: C:\Users\Administrator\Desktop\New folder\20160821034115118_0001.jpg

Phần 9 (9 bài): Bài tập luyện ngón nhịp 3/8, 6/8.

 

Phần 10 (12 bài): Các bài tập kỹ thuật.

 

 

 

 

Phần 11 (10 bài): Các bài tập etude để học sinh nâng cao kỹ thuật.

Phần 1+2+3 cho học sinh năm thứ nhất. Phần 4+5 cho học sinh năm thứ 2. Phần 6+7 cho học sinh năm thứ 3.

Phần 8 cho học sinh năm thứ 4. Phần 9+10 cho học sinh năm thứ 5. Phần 11 cho học sinh năm thứ 6.

 

1.2.2.2. Bài tập ứng dụng vào tác phẩm mới:

Ngày nay, tác phẩm mới (âm nhạc có tác giả) giữ một vị trí quan trọng trong nền âm nhạc Việt Nam. Những tác phẩm mới được các nhạc sĩ, nghệ sĩ sáng tác với nội dung tình cảm, tâm tư của con người. Nhờ có những tác phẩm mới đó, người nghệ sĩ đàn Nhị mới có điều kiện để thể hiện tài năng biểu diễn của mình nhằm phát triển và nâng cao nghệ thuật diễn tấu. Để có thể diễn tấu được các tác phẩm phải cần có kỹ thuật, nó là yếu tố quan trọng góp phần đến thành công của tác phẩm.  NSND Nguyễn Thế Dân đã trích những đoạn kỹ thuật từ một số tác phẩm ra làm bài tập kỹ thuật.

1.2.3. Phương pháp giảng dạy:

Hiện nay, phương pháp giảng dạy đàn Nhị tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam là sử dụng bản phổ 5 dòng kẻ để ký âm và làm cơ sở lý luận, có đặc điểm: dạy trực tiếp thông qua bài bản kí âm trên bản phổ, hướng dẫn luyện tập, kiểm tra dựa trên cơ sở lấy bản phổ làm chuẩn. Phương pháp này rất tốt để học sinh nhanh chóng đánh được bài bản (đúng nốt ký âm). 

- Phương pháp thị phạm giúp cho học sinh nắm bắt bài tốt hơn, và xử lý chính xác từng chi tiết nhỏ trong bài bản. 

- Phương pháp đọc nhẩm trước khi đánh bài giúp học sinh luyện trí nhớ và có một vai trò rất quan trọng trong việc rèn luyện khả năng kiểm soát từng nốt nhac, từng động tác của tay phải và tay trái. Khả năng kiếm soát trong khi chơi nhạc cũng cần phải được rèn luyện qua nhiều năm, nó giúp nâng cao khả năng thị tấu khi nhìn bản nhạc.

Trong quá trình giảng dạy, từ năm thứ nhất đến năm thứ sáu, các giáo viên căn cứ trình độ để sắp xếp nội dung bài bản phù hợp với khả năng của học sinh.

1.2.4. Đánh giá chung:

Với nội dung giáo trình và phương pháp giảng dạy như hiện nay, có thể đáp ứng được yêu cầu  việc truyền đạt kiến thức, kỹ năng chơi các bài tập kỹ thuật cho học sinh. Hiên tại, vấn đề tiếp thu của học sinh còn nhiều hạn chế. Với thời lượng học trên lớp quá ít, chưa đủ , học sinh cần phải tự luyện tập, tích cực, chủ động trong học tập ( ít nhất từ 1 đến 2 tiếng mỗi ngày). Vì vậy, thời gian tự luyện tập là rất quan trọng, nó có ảnh hưởng rất lớn đến thành công trong học tập của học sinh. Trung bình một năm các em học khoảng 10-12 bài tập kỹ thuật ( tùy theo khả năng tiếp thu). Về ý thức: Học sinh thường thụ động vào thầy. Nhanh, ẩu dẫn đến nhiều hạn chế sau nhiều năm học. Cách tập luyện học sinh hay cố gắng tăng tốc độ nhưng chưa có phương pháp hợp lý dẫn đến mất nhiều thời gian, công sức, mà hiệu quả thấp. Về nghệ thuật: Việc chơi đàn hấp tấp làm cho các câu đoạn, nốt nhạc không đầy đặn, thiếu phương pháp học nhạc.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Trong chương 1 của luận văn, nội dung chính là " Giảng dạy các bài tập kỹ thuật cho Đàn Nhị hệ Trung Cấp ". Ngày nay, cây đàn Nhị ngoài việc sử dụng trong các loại hình âm nhạc sân khấu và cổ truyền Việt Nam, nó đã có những bước tiến mới trong nghệ thuật diễn tấu qua những tác phẩm mới, dân ca...mà trong đó kỹ thuật giữ một vị trí quan trọng, là phương tiện truyền tải cảm xúc âm nhạc đến với người nghe. Để có cơ sở thực tiễn triển khai đề tài của luận văn, chương một đã tiến hành khảo sát thực trạng giảng dạy các bài tập kỹ thuật cho đàn Nhị hệ Trung Cấp tại Học Viện âm nhạc quốc gia Việt Nam (phương pháp giảng dạy và nội dung giáo trình). Hiện nay, giáo trình giảng dạy các bài tập kỹ thuật cho đàn Nhị là " Tuyển tập kỹ thuật cho Đàn Nhị " của NSND Nguyễn Thế Dân.

 

 

CHƯƠNG 2

CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY

Đối với học sinh, để nhanh chóng nắm bắt các kiến thức  và không cảm thấy khó khăn trong quá trình học tập, giảng viên cần nghiên cứu sâu về vấn đề phương pháp giảng dạy  và giáo trình. Trong lĩnh vực sư phạm, phương pháp giảng dạy  và giáo trình là hai yếu tố không thể thiếu được để bất kể một bộ môn nào cũng có thể làm tốt chức năng truyền đạt kiến thức cho học sinh học tập một cách có hiệu quả, mặt khác khơi dậy lòng ham muốn tìm hiểu kiến thức, nâng cao tính tự giác, tự chủ trong học tập và rèn luyện. Những phương pháp này phải luôn được đổi mới, phù hợp với những đòi hỏi của tình hình thực tế và điều kiện xã hội. Trên cơ sở xác định được mục đích của vấn đề trang bị kỹ năng đàn Nhị cho ngành học nhằm hướng đến một phương pháp đào tạo thống nhất, khoa học và nâng cao chất lượng đào tạo, phù hợp với mục đích và yêu cầu của môn học, chúng tôi có đề xuất một số giải pháp liên quan đến vấn đề giáo trình và phương pháp giảng dạy để đẩy mạnh chất lượng giảng dạy môn đàn Nhị hiện nay.

2.1. Tính hệ thống trong giảng dạy.

2.1.1. Xây dựng nền móng kỹ thuật cơ bản.

Với các em bắt đầu học đàn, đầu tiên kỹ thuật cơ bản là cực kỳ quan trọng, có được nền móng kỹ thuật cơ bản ở những năm đầu bậc học Trung cấp, các em mới có thể phát triển tốt ở bậc Đại học và cả sự nghiệp của mình sau này. Do đó, các giảng viên rất chú trọng truyền dạy kỹ thuật cơ bản cho học sinh. Nói về kỹ thuật Đàn Nhị, cần đi sâu nghiên cứu kỹ thuật tay phải, kỹ thuật tay trái và kỹ thuật phối hợp hai tay.

2.1.2.Bổ sung một số bài tập kỹ thuật bổ trợ cho tác phẩm mới.

Ngày nay vai trò của tác phẩm mới (âm nhạc có tác giả) giữ một vị trí cực kỳ quan trọng trong đời sống âm nhạc. Trong thực tế biểu diễn và giảng dạy trong nhiều năm qua, các nghệ sĩ và giảng viên đàn Nhị đã khẳng định vai trò của những tác phẩm mới trong việc biểu diễn và đào tạo đàn Nhị. Những tác phẩm mới thể hiện những nội dung của xã hội đương thời và con người Việt Nam. Khi nói về tác phẩm mới, là chúng ta đang đi vào lĩnh vực tác phẩm có tác giả. Nhờ có những tác phẩm mới được sáng tác cho đàn Nhị, người nghệ sĩ mới có điều kiện để thể hiện tài năng biểu diễn của bản thân. Để có những tác phẩm mới, chúng ta phải nói đến sự sáng tạo và đóng góp không mệt mỏi của các nhạc sĩ sáng tác và khẳng định vai trò của họ trong sự nghiệp phát triển nghệ thuật đàn Nhị. Chúng tôi thấy cần bổ sung thêm vào giáo trình giảng dạy một số bài tập kỹ thuật bổ trợ cho tác phẩm mới để đáp ứng nhu cầu thực tiễn cũng như đầy đủ hơn về tính chất âm nhạc.

 - Các bài tập nhịp lẻ : 5/8, 7/8, 9/8, 12/8.

Ví dụ 10: Trích “ Hội làng” (Nguyễn Thiếu Hoa).

Description: 20160813033725069_0001

 

-  Các bài tập Cromatic. (Nguyễn Thế Dân)

Ví dụ 11.

Description: 13

Description: 20160813033626047_0001

 -  Các bài tập cromatic nhịp 3/8, 6/8.  (Nguyễn Thế Dân)

Ví dụ 12.

Description: 20160813033626047_0002

 - Các bài tâp Quãng nâng cao.

Ví dụ 13. Trích “ Mùa xuân cao nguyên” (Nguyễn Đình Long).

Description: 20160813033725069_0002

 

  • Tham khảo thêm một số bài tập kỹ thuật của Đàn Nhị Trung Quốc

 Ví dụ 14.  Trích “ Trăn Trở”.

Description: 20160813033725069_0003

 - Tham khảo thêm một số bài tập kỹ thuật của Violin.

  Ví dụ 15. Trích “Bài tập kỹ thuật Violin”

Description: FullSizeRender

2.1.3. Rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh.

Trước tiên, học sinh hãy quan niệm tự luyện tập tức là vừa làm trò, vừa làm thầy. Thành công trong học tập phụ thuộc phần lớn vào việc tự luyện tập mặc dù sự hướng dẫn của giáo viên là không thể thiếu " Không thầy đố mày làm nên ". Hãy tìm cho mình cách luyện tập hợp lý vì thời gian học trên lớp là rất ít. Tập đàn có nghĩa là chơi đàn. Tất nhiên, trước hết phải có kỹ thuật cơ bản, những kiến thức mà học sinh tiếp thu được của người thầy. Việc củng cố và trau đồi những kỹ thuật cơ bản đã có là cực kỳ quan trọng. Nhiều học sinh thường chỉ tập luyện kỹ thuật trong giờ tự học mà quên rèn luyện cảm xúc âm nhạc trong chính các bài tập kỹ thuật đó. Đây là một nhược điểm mà nhiều học sinh mắc phải. Một phương pháp tự học đúng đắn với một sự chuẩn bị kỹ lưỡng các nội dung luyện tập trước mỗi buổi tự học sẽ là đảm bảo cho sự tiến bộ thường xuyên của học sinh. Một trong những điều quan trọng nhất đó là luôn tìm thấy hứng thú trong luyện tập và sử dụng thời gian luyện tập một cách hiệu quả nhất.

2.2. Giải pháp về phương pháp giảng dạy.

2.2.1. Xây dựng  kế hoạch giảng dạy.

Để giáo trình giảng dạy bảo đảm đúng tiến độ, có sự chủ động trong sử dụng thời gian, giảng viên cần lên kế hoạch và nội dung giảng dạy cụ thể trong từng năm học. Điều này sẽ giúp cho việc giảng dạy được tiến hành theo một lịch trình hợp lý, cân đối theo kế hoạch định sẵn, đồng thời sử dụng hiệu quả quỹ thời gian. Khối lượng bài vở mà giảng viên giao cho học sinh phải phù hợp với năng lực tiếp thu, trình độ cụ thể trong từng thời điểm của mỗi người nhằm mục đích giúp người học phát huy được hết khả năng của bản thân. Tiến độ học tập chậm so với khả năng có thể sẽ làm kìm hãm sự phát triển của người học nhưng nếu tiến độ học tập nhanh vượt quá khả năng cho phép, người học sẽ bị quá tải vì không đủ năng lực và thời gian để hoàn thành.

2.2.2. Xây dựng các tiêu chí chung.

2.2.2.1. Mục tiêu hướng đến.

a. Bồi dưỡng năng lực tự học.

Vấn đề rèn luyện cho người học có những phương pháp, thói quen nghiên cứu, học tập, sáng tạo không chỉ trong thời gian trên lớp mà còn trong quá trình công tác sau này là vô cùng cần thiết. Thời gian tự học là điều kiện để người học luyện tập bài vở và tiếp nhận các thông tin liên quan đến nội dung học tập từ nhiều nguồn khác nhau, để làm phong phú thêm hiểu biết của mình giúp cho việc học tập đạt kết quả. Bồi dưỡng năng lực tự học không những giúp người học nắm vững phương pháp học tập và kỹ năng vận dụng tri thức một cách chắc chắn và bền vững, mà còn là dịp tốt để rèn luyện ý chí và năng lực hoạt động sáng tạo là những điều mà không ai cung cấp được nếu người học không thông qua hoạt động bản thân, là những phẩm chất cần thiết cho sự phát triển và thành công của mỗi con người.

b. Phát triển khả năng thể hiện của học sinh.

  Đây là điều kiện quan trọng trong quá trình học tập, khả năng thể hiện có thể chia thành nhiều mức độ khác nhau:

 -Khả năng thể hiện do năng khiếu bản thân.

 -Khả năng thể hiện thông qua sự hướng dẫn của giảng viên, sự rèn luyện, tích lũy kiến thức của người học trong quá trình học tập.

2.2.2.2. Những tiêu chí đối với giảng viên.

 Chúng ta đều biết, bất kỳ một hệ thống đào tạo nào cũng phải hội đủ các yếu tố chính như: người dạy, người học, chương trình giáo trình và cơ sở vật chất thích ứng. Chất lượng giáo dục của mọi cơ sở đào tạo đều phụ thuộc vào trình độ năng lực chuyên môn và năng lực sư phạm cũng như phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ giảng dạy. Chính vì lẽ đó mà hơn bao giờ hết, vai trò của người thầy có ý nghĩa hết sức cần thiết, là chủ thể tác động vào mọi nhân tố của quá trình giáo dục (thể hiện ở chỗ là người xác định mục tiêu, nội dung dạy học, thiết kế và tổ chức hoạt động, dự kiến các tình huống có thể xảy ra và dự kiến phương hướng, cách thức giải quyết tương ứng). Đặc biệt, vai trò này tác động trực tiếp đến quá trình nhận thức của người học thông qua các chức năng định hướng, khơi gợi, điều chỉnh...nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp cho quá trình phát triển khả năng thể hiện của người học. Chính vì vậy, cần phải “đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên...”

2.2.3. Trau dồi và nâng cao kiến thức về phương pháp sư phạm.

Để đáp ứng nhu cầu trong giai đoạn đổi mới nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy, người giảng viên cần được trang bị những kiến thức chung về phương pháp sư phạm âm nhạc. Đây là một hệ thống phương pháp luận về nghệ thuật cũng như về sư phạm âm nhạc, trong đó cập nhật nhiều vấn đề có hàm lượng khoa học cao về giáo dục âm nhạc của các học giả trên thế giới. Việc nâng cao hiểu biết của giảng viên về phương pháp sư phạm âm nhạc chính là nền tảng mang tính cơ sở cho sự phát triển của phương pháp sư phạm chuyên ngành. Môn học này cũng giúp cho các giảng viên nắm vững các vấn đề về phương pháp tư duy đa chiều, phương pháp giảng dạy tích cực trong thời kỳ mới của các trào lưu giáo dục âm nhạc trên thế giới. Những vấn đề về thông tin, tri thức cũng như các cách tiếp cận với hệ thống tư liệu, tổng hợp thông tin để biến thông tin thành tri thức và luôn luôn đổi mới tri thức chuyên ngành đang là những vấn đề nóng hổi trong lĩnh vực sư phạm âm nhạc trong nước và quốc tế. 

2.2.4. Đổi mới phương pháp giảng dạy.

Phương pháp giảng dạy là hệ thống những hành động có mục đích của giảng viên, nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của người học. Nói cách khác phương pháp giảng dạy đòi hỏi một sự tương tác không thể thiếu được giữa người dạy và người học với đối tượng nghiên cứu, mà kết quả của hoạt động này là quá trình lĩnh hội kiến thức của người học. Hiện nay việc đổi mới phương pháp giảng dạy đang là một đòi hỏi hết sức cần thiết trong công tác đào tạo. Yêu cầu của xã hội đặt ra cho con người là phải phát huy không ngừng tính năng động, sáng tạo, tích cực, chủ động, tự học hỏi để bắt kịp với yêu cầu phát triển ngày càng cao của đất nước. Việc đổi mới phương pháp giảng dạy đòi hỏi giảng viên không ngừng tìm kiếm các phương pháp giảng dạy mới, kết hợp khéo léo với các phương pháp truyền thống hiện có trên cơ sở bảo đảm phù hợp với nội dung giảng dạy theo hướng nâng cao năng lực của người học, bồi dưỡng phương pháp tự học, tự khám phá để chiếm lĩnh tri thức. 

a. Đổi mới quan điểm dạy học phát huy tính tích cực của học sinh.

 Đổi mới về cách dạy nhằm làm thay đổi tính chất hoạt động nhận thức của học sinh. Chú trọng mối quan hệ hợp tác 2 chiều giữa thầy và trò trong dạy học: thầy tổ chức, hướng dẫn, cố vấn, còn trò là chủ thể hoạt động. Đổi mới cách học thông qua tăng cường hoạt động tự học của học sinh nhằm tạo sự chuyển biến từ học tập thụ động sang chủ động. Chú trọng rèn luyện phương pháp học tập cho mọi đối tượng học. Tăng cường mối quan hệ giữa trí tuệ và tâm hồn, giữa tư duy và cảm xúc: dạy học phải tác động vào tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh. 

b. Phương pháp khích lệ  hoạt động học tập của người học.

- Hình thành hứng thú nhận thức: được thể hiện thông qua các bước: xúc cảm đối với hoạt động; có nhận thức đối với xúc cảm này. Có thể nói rằng trong quá trình dạy học, điều quan trọng là phải làm phát sinh những xúc cảm đối với hoạt động học tập.

- Tạo ra sự thành công trong học tập: Một trong những phương pháp hiện đại nhằm kích thích hứng thú học tập là tạo ra sự thành công trong học tập đối với những học sinh yếu kém. Nếu không có những thành công trong hiện tại thì khó có thể vượt qua mọi trở ngại để đi đến thành công trong tương lai.

c. Dạy học phải đảm bảo nguyên tắc "tính vừa sức".

Một trong những nguyên tắc cơ bản của quá trình dạy học là phải đảm bảo tính vừa sức và phù hợp với đặc điểm lứa tuổi. Ba yếu tố chính ảnh hưởng trực tiếp tới sự quá tải trong học tập là nhiệm vụ học tập, năng lực của người học và điều kiện học tập. Để giải quyết được vấn đề này, phải tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi sau: đối tượng học có đủ khả năng tiếp thu, có đủ phương tiện và thời gian học tập; trình độ kiến thức cũng như năng lực sư phạm của giảng viên có đáp ứng được hay không?

 Đảm bảo tính vừa sức trong học tập là một nguyên tắc quan trọng đòi hỏi giảng viên cần tuân thủ nghiêm ngặt trong giảng dạy. Khi khối lượng và độ phức tạp của bài vở cao hơn khả năng học tập thực tế của người học thì sẽ dẫn đến tình trạng quá tải. Điều đó sẽ rút ngắn thời gian nghỉ ngơi, làm giảm sức khỏe và năng lực học tập. Ngược lại, khi dung lượng và trình độ của bài học thấp hơn mức độ hợp lý, thì nhịp độ học tập giảm xuống, sự nỗ lực và ý chí học tập cũng như sự phát triển trí tuệ và hứng thú học tập đều bị giảm sút. Chính vì vậy, trong quá trình giảng dạy giảng viên phải lưu ý đến việc lựa chọn bài vở phù hợp với trình độ, năng lực của người học, làm cơ sở để có những nhận định, đánh giá chính xác về khả năng của từng đối tượng học.

2.3.Thực nghiệm sư phạm.

2.3.1. Kế hoạch thực nghiệm.

Thực nghiệm sư phạm là một học phần quan trọng trong quá trình đào tạo của người giáo viên. Chúng tôi tổ chức thực nghiệm với mục đích đánh giá khách quan kết quả đạt được sau khi áp dụng một số giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo, khẳng định tính khả thi của một số giải pháp đã được trình bày trong luận án. Đối tượng được lựa chọn thực nghiệm là học sinh của Học viện âm nhạc quốc gia Việt Nam với đối tác thực nghiệm là NSND Nguyễn Thế Dân.

2.3.2. Tổ chức thực nghiệm.

Chúng tôi tiến hành dạy thực nghiệm tại phòng 1B, nhà A2 Học viện âm nhạc quốc gia Việt Nam. Các hoạt động chủ yếu diễn ra trong buổi học: Luyện kỹ thuật bài tập, kỹ thuật tác phẩm. Phương pháp tổ chức dạy thực nghiệm: Chúng tôi tiến hành lên tiết dạy, dự giờ, phỏng vấn, khảo sát để rút ra được kết quả giảng dạy thực nghiệm.

2.3.3. Kết quả thực nghiệm.

Những tiêu chí đánh giá chất lượng: Đánh giá chất lượng kết quả thực nghiệm thông qua thái độ của học sinh sau khi tham gia tiết học. Đánh giá chất lượng kết quả thực nghiệm thông qua nhận thức của học sinh về các vấn đề đặt ra trong quá trình thực nghiệm 

Kết quả: Với việc áp dụng các giáo án thực nghiệm, chúng tôi đã thu nhận được kết quả khả quan. Chất lượng học sinh được nâng lên rõ rệt về thái độ, nhận thức, học sinh hứng thú hơn trong học tập, năng động, sôi nổi và tự tin hơn.

2.3.4. Bài học rút ra từ công tác thực nghiệm.

Một số nội dung đổi mới đã được thể hiện rõ trong các tiết dạy thực nghiệm. Thông qua đó, chúng tôi có những tổng kết như sau: Việc đổi mới quy trình dạy học là cần thiết giúp giảng viên tiếp cận với phương pháp dạy học mới, phát huy tính tích cực của học sinh. Phối hợp các hình thức tổ chức lớp học là điều kiện để giảng viên đổi mới phương pháp dạy học, từng bước nâng cao năng lực giảng dạy. Tăng cường sử dụng phối hợp phương pháp thị phạm và gợi mở trong giảng dạy là động lực thúc đẩy giảng viên không ngừng trau dồi kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm. Tất cả những vấn đề đã được nêu trên nếu thực hiện một cách đồng bộ và nghiêm túc thì năng lực giảng dạy của giảng dạy sẽ được nâng cao, góp phần đổi mới đào tạo trong giai đoạn mới. 

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

   Để nâng cao chất lượng giảng dạy, điều quan trọng nhất vẫn là việc dạy và học. Dạy và học theo phương pháp truyền nghề vẫn giữ một vị trí quan trọng.  Chương 2 của luận văn đã đưa ra các giải pháp bổ sung nội dung giáo trình, nâng cao chất lượng giảng dạy. Để cụ thể hóa việc nâng cao chất lượng giảng dạy, luận văn đã đưa ra các giải pháp: bổ sung một số bài tập kỹ thuật bổ trợ cho tác phẩm mới (bài tập nhịp lẻ, bài tập Cromatic, bài tập Quãng nâng cao và tham khảo một số bài tập của đàn Nhị Trung Quốc và Violin. Bên cạnh đó, các giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy (Nhận thức của giảng viên và học sinh đối với cây đàn Nhị. Xây dựng nền móng kỹ thuật cơ bản, phương pháp tự học cho học sinh, xây dựng các tiêu chí chung, đổi mới phương pháp giảng dạy. Hiểu biết về thực nghiệm sư phạm).

 

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ.

   KẾT LUẬN

Đàn Nhị đã hình thành và phát triển trong nhiều thế kỷ qua, là một 
cây đàn đặc sắc của Việt Nam.Thông qua các truyền thuyết dân gian được 
người Việt Nam chấp nhận, cây đàn này được những người nghệ nhân dùng 
làm kế sinh nhai. Đàn Nhị đã được cải tiến trở thành cây đàn hiện đại hơn nhiều lần so với đàn Nhị xưa, làm tăng khả năng diễn tả của cây đàn trước đông đảo người nghe. 

 - Về nghệ thuật biểu diễn:

Cho đến nay, đã có  hình thức độc tấu, hòa tấu xuất hiện ở các sân khấu to nhỏ trong nước và ngoài nước. Cùng với sự phát triển của văn hóa âm nhạc hiện nay, đàn Nhị cũng cố gắng thử nghiệm với những phương thức mới như biểu diễn với dàn nhạc giao hưởng, tác phẩm ngẫu hứng... Nghệ thuật biểu diễn đàn Nhị từ trong dân gian đã nổi bật sức hấp dẫn cho cả thế giới, từ một nhạc cụ đệm cho hát trở thành nhạc cụ độc tấu, hòa tấu trên sân khấu lớn, hình thức biểu diễn được đa dạng hóa cũng là một trong những phát triển không thể xem nhẹ.

   - Về giáo trình và phương pháp giảng dạy. 

 Từ khi đàn Nhị được đưa vào trường Âm nhạc giảng dạy, phương pháp giảng dạy và truyền bá đã được trải qua những biến đổi, cải cách lớn. Ngày xưa, việc dạy nghề của các nghệ nhân trong dân gian thường theo lối truyền khẩu và truyền miệng, từ khi đưa vào trường nhạc chuyên nghiệp, giảng dạy, đàn Nhị đã được hệ thống hóa, có bản phổ chính quy. Đây là một bước thay đổi lớn, phương pháp giảng dạy từ truyền nghề và bắt chước đơn thuần chuyển sang sử dụng phương pháp 5 dòng kẻ làm chủ thể giảng dạy của mô hình giảng dạy mới. Trong phương pháp giảng dạy mới này, người thầy đã sử dụng phổ biến của các loại giáo trình, làm cho học sinh, sinh viên nắm vững được các kỹ thuật khó một cách hiệu quả trong thời gian ngắn. 

 

KHUYẾN NGHỊ

Thông qua những góp ý của các nhạc sĩ sáng tác, giảng viên và nghệ sĩ đàn Nhị cũng như quần chúng nhân dân với các lứa tuổi, nhóm thính giả khác nhau trong các cuộc phỏng vấn. Trong giai đoạn này, đàn Nhị được phát triển một cách thuận lợi, đã trở thành cây đàn mang tính đại diện trong lịch sử phát triển của âm nhạc truyền thống Việt Nam. Dưới đây, chúng tôi có một vài khuyến nghị như sau: 

  - Cần tận dụng mọi khả năng nhằm phổ cập cây đàn Nhị.

  - Đào tạo đàn Nhị tại các trường chuyên và không chuyên. 

  - Tổ chức nhiều chương trình biểu diễn giới thiệu cây đàn Nhị.

  - Tăng cường nâng cao hiệu quả và chất lượng trong việc học nghệ nhân.

  - Tổ chức các cuộc thi từ nhỏ đến lớn.

  - Khuyến khích các nhạc sĩ sáng tác tác phẩm cho đàn Nhị.

  - Cải tiến đàn Nhị một cách phù hợp.

Đầu trang
  
English


Các khoa, bộ môn
Khoa Piano
Khoa Dây
Khoa Kèn - Gõ
Khoa Accordion - Guitar- Organ
Khoa nhạc Jazz
Khoa Thanh nhạc
Khoa Nhạc cụ Truyền thống
Khoa Lý luận - Sáng tác - Chỉ huy
Khoa Kiến thức Âm nhạc
Khoa Kiến thức Đại cương
Khoa Văn hoá

Quảng cáo
Liên hệ quảng cáo
HỌC VIỆN ÂM NHẠC QUỐC GIA VIỆT NAM
77 Hào Nam, Đống Đa, Hà Nội
ĐT: +844 3851 4969 / 3856 1842 - Fax: +844 3851 3545
Website: www.vnam.edu.vn - Email: hvan@vnam.edu.vn