Trang chủ
Festival Piano quốc tế Hà Nội 2018
Cuộc thi Piano quốc tế Hà Nội 2018
Giới thiệu
Tổ chức
Ba công khai
Hoạt động
Tuyển sinh
Đào tạo
Biểu diễn
Nghiên cứu
Thông tin nghiên cứu KH
Luận án Tiến sĩ
Luận văn Thạc sĩ
Biểu mẫu đăng ký NCKH
Mẫu đăng ký GS, PGS
Giáo trình
Hợp tác quốc tế
Liên hệ

Giảng viên
Sinh viên
Thư điện tử
Tin ảnh
Trang kỷ niệm 60 năm thành lập Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam

Lượt truy cập: 6119103
Luận án Tiến sĩ Thứ ba, 13/11/2018

Tác giả: Nguyễn Thị Tân Nhàn   
Đề tài: Đào tạo giọng Soprano Việt Nam chất lượng cao 
Chuyên ngành: Âm nhạc học
Mã số: 62.21.02.01.
Người hướng dẫn: GS.NSND. Nguyễn Trung Kiên
Ngày đăng: 01/10/2018

Luận án toàn văn 

Tóm tắt Luận án

 

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Nghiên cứu những thành quả trong công tác đào tạo của hơn 60 năm qua chúng tôi thấy sự vượt trội cả về mặt chất lượng và số lượng những diễn viên, cán bộ giảng dạy là nữ. Riêng tại HVANQGVN số GV TN là 19 người, trong số đó có 14 người là nữ. Tại NVTP Hồ Chí Minh số GV TN là 20, trong số đó có 15 GV là nữ. Những GV vừa giảng dạy tốt vừa biểu diễn tốt đa số cũng là nữ. Trong số các giọng nữ đó, giọng Soprano chiếm tỷ lệ vượt trội. Trong đội ngũ những ca sĩ thành danh đa số là giọng Soprano. Ở Việt Nam việc đào tạo giọng Soprano đạt nhiều thành công và tích lũy kiến thức học thuật tốt hơn, thuận lợi hơn so với kiến thức đào tạo các loại giọng khác.

Với mong muốn có thể đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, góp phần phát huy tiềm năng của giọng Soprano nói chung, giọng Colorature Soprano Việt Nam nói riêng. Chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Đào tạo giọng Soprano Việt Nam chất lượng cao”.

2. Lịch sử đề tài

Tại Việt Nam, một số công trình đáng lưu ý sau: Phương pháp sư phạm thanh nhạc(2001) của tác giả Nguyễn Trung Kiên, Viện Âm nhạc; Những vấn đề về sư phạm thanh nhạc(2014)của tác giả Nguyễn Trung Kiên, Nxb Âm nhạc; Phương pháp dạy thanh nhạc(2008) của tác giả Hồ Mộ La, Nxb Từ điển Bách Khoa… 

Những công trình kể trên đã nghiên cứu một cách sâu rộng nhiều vấn đề quan trọng trong đào tạo TN chuyên nghiệp dành cho tất cả các loại giọng hát. Riêng những công trình liên quan tới đào tạo giọng Soprano nói chung có thể kể tới một số công trình đáng chý ý sau.

Training Soprano Voices(2000) của tác giả Richard Miller, Nxb Đại học Oxford.

On the Art of Singing (2011) của tác giả Richard Miller, Nxb Đại học Oxford. 

Phương pháp sư phạm TN(2001), Nxb Âm nhạc của tác giả Nguyễn Trung Kiên. 

Giáo trình đại học TN (2007), Bộ VHTTDL do tác giả Nguyễn Trung Kiên biên soạn gồm các trích đoạn Opera cho các giọng Soprano (nữ cao 122 tác phẩm), giọng Tenor (nam cao 112 tác phẩm), Bas – Bariton (nam trầm trung 116 tác phẩm). 

Phương pháp dạy TN(2008) của tác giả Hồ Mộ La, Nxb Từ điển Bách Khoa. 

Luận án “Quá trình hình thành và phát triển ca hát chuyên nghiệp Việt Nam” của tác giả Trương Ngọc Thắng (2008). 

Luận án tiến sĩ “Opera trong sự phát triển nền âm nhạc chuyên nghiệp Việt Nam” (2010) của tác giả Nguyễn Thị Tố Mai. 

Luận án tiến sĩ “Đào tạo ca sĩ hát Opera tại HVANQGVN” (2017) của tác giả Đỗ Quốc Hưng. 

Luận án tiến sĩ  “Âm nhạc Mozart trong đào tạo TN chuyên nghiệp Việt Nam” (2017) của tác giả Nguyễn Thị Phương Nga. 

Luận án “Phát âm tiếng Việt trong TN” của tác giả Võ Văn Lý (2001).

Luận án “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo TN chuyên nghiệp trong giai đoạn mới” của tác giả Lê Thị Minh Xuân (2015). 

Có thể thấy, những nghiên cứu trên đây đã đề cập tương đối rộng các khía cạnh trong đào tạo TN chuyên nghiệp nói chung. Tuy nhiên, nghiên cứu sâu về lý luận và thực hành trong đào tạo giọng Soprano Việt Nam đặc biệt là trong đào tạo chất lượng cao thì các công trình trên chưa đề cập. Bởi vậy, hướng nghiên cứu của chúng tôi là mới.

3. Mục tiêu nghiên cứu

Làm rõ quá trình lịch sử hình thành và phát triển nghệ thuật và sư phạm TN gắn với giọng Soprano tại Việt Nam.

Nghiên cứu, những đặc điểm của giọng Soprano Việt Nam, những thành công, hạn chế trong công tác đào tạo, biểu diễn, hội nhập quốc tế. Xác định rõ vai trò quan trọng của giọng Soprano trong lĩnh vực nghệ thuật TN.

Phân tích những kỹ thuật đặc trưng ứng dụng trong đào tạo giọng Soprano chất lượng cao.

Đề xuất một số biện pháp đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo giọng Soprano chất lượng cao Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

4. Đối tượng nghiên cứu

Luận án xác định đối tượng nghiên cứu là đào tạo giọng Colorature Soprano chất lượng cao bậc Đại học tại HVANQGVN.

5. Phạm vi nghiên cứu     

Về địa điểm triển khai. Do phần lớn nguồn GV có trình độ cao được phân bổ về các cơ sở đào tạo âm nhạc, TN là do HVANQGVN cung cấp. Các mô hình đào tạo chuyên ngành nói chung, TN nói riêng thống nhất theo mô hình của HVANQGVN. Vì vậy chúng tôi lấy HVANQGVN là đối tượng nghiên cứu chính cho đào tạo giọng Colorature Soprano Việt Nam.

6. Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính sau.

Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp. Chúng tôi tổng hợp và phân tích những tài liệu, sách báo liên quan tới lĩnh vực nghiên cứu để xây dựng cơ sở lý thuyết về giọng Soprano.

Phương pháp điều tra, khảo sát. Sử dụng phiếu điều tra, câu hỏi, khảo sát ý kiến của người học.

Phương pháp thực nghiệm. Chúng tôi tiến hành thực nghiệm, áp dụng các biện pháp được nghiên cứu vào giảng dạy để thấy được kết quả và tính khả thi của các biện pháp đưa ra.

7. Đóng góp mới của luận án

Luận án xác định rõ hướng phát triển của giọng Colorature Soprano Việt Nam. Nêu bật được những ưu điểm và hạn chế trong đào tạo giọng Colorature Soprano tại HVANQGVN.

Làm giầu hệ thống bài tập nhằm phát triển kỹ thuật TN trong đào tạo giọng Colorature Soprano chất lượng cao. 

Đề xuất các tác phẩm chọn lọc quốc tế và trong nước cho đào tạo những giọng Colorature Soprano chất lượng cao.

Đề xuất một số biện pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo giọng Soprano tại cơ sở của HVANQGVN. 

8. Bố cục luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được chia thành ba chương.

Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn đào tạo giọng Soprano chất lượng cao.

Chương II: Kỹ thuật và tác phẩm thanh nhạc trong đào tạo giọng Colorature Soprano chất lượng cao tại Học viện âm nhạc quốc gia Việt Nam.

Chương III: Biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo giọng Colorature Soprano chất lượng cao tại Việt Nam

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐÀO TẠO GIỌNG SOPRANO CHẤT LƯỢNG CAO

1.1. Khái lược về giọng Soprano

1.1.1. Đặc điểm chung của giọng Soprano

1.1.1.1. Âm khu

1.1.1.2. Âm sắc của giọng Soprano

1.1.1.3. Âm vực

1.1.2. Các loại giọng Soprano

1.1.2.1. Nữ cao kịch tính (Dramatic Soprano)

1.1.2.2. Nữ cao trữ tình (Lirico Soprano)

Nữ cao trữ tình đầy đặn (Full lirico Soprano)

Nữ cao trữ tình sáng mảnh (Light Lirico Soprano)

1.1.2.3. Nữ cao trữ tình kịch tính (Spinto Soprano)

1.1.2.4. Nữ cao màu sắc (Coloratura Soprano)

Là loại giọng nữ cao nhất, có âm sắc nhẹ nhàng linh hoạt, trong sáng, có khả năng hát tốt những đoạn nhạc passage (lướt nhanh nhiều nốt), hát những Staccato (âm nẩy) ở âm khu cao

Giọng Coloratura Soprano không có âm lượng mạnh, nhưng âm thanh lại có tính chất “bay”, vang xa. Coloratura Soprano được chia thành hai nhánh:

Nữ cao trữ tình màu sắc (Lirico Coloratura Soprano)

Nữ cao kịch tính màu sắc (Dramatic coloratura Soprano)

Ngoài cách phân loại chính thống được nói đến ở trên, còn có một số phân loại thêm cho giọng Soprano như: nữ cao toàn năng (Assoluta/Sfogato), nữ cao chim ưng (Falcon Soprano), nữ cao thiên thần (Soubrette Soprano)… Những loại giọng này chưa phổ biến trong đào tạo tại Việt Nam. 

Như vậy, cùng là giọng Soprano nhưng lại có sự phân chia cụ thể thành từng nhánh nhỏ dựa vào mầu sắc, âm khu, âm vực của giọng hát. Trong đào tạo TN, việc hiểu và phân biệt từng loại giọng là việc làm rất quan trọng để mang lại hiệu quả đào tạo cao. 

1.1.3. Vị trí, vai trò của giọng Soprano trong lịch sử phát triển nghệ thuật thanh nhạc

Giọng Soprano có được vị trí quan trọng sớm nhất trong vở opera “Ariama” của nhạc sĩ Monteverdi (1608). 

Tại Việt Nam, chỉ tính từ năm 1956 cho đến nay đã có rất nhiều tác phẩm TN được sáng tác dành cho giọng Soprano. Từ Aria, Romance đến các ca khúc nghệ thuật... Có thể thấy, trải qua thời gian, giọng Soprano ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò trong sự phát triển chung của TN thế giới. Bởi đây là loại giọng có sức lôi cuốn mãnh liệt, hát ở âm vực rộng, lên rất cao, thuận lợi để miêu tả, mô phỏng một cách sinh động tính chất âm nhạc, tâm tư tình cảm và nghệ thuật mà tác phẩm hướng tới. 

1.2. Đôi nét về đào tạo TN trên thế giới và Việt Nam

1.2.1. Về đào tạo TN trên thế giới

Thế kỷ XIX - thế kỷ của các thành tựu khoa học cơ bản phát triển mạnh, nền sư phạm TN đã kế thừa thuyết hơi thở, có thêm thuyết cộng minh. Sang thế kỷ XX - thời kỳ của khoa học hiện đại các nhà sư phạm TN lại đưa ra thuyết cơ chế, thuật ngữ này nhằm chỉ sự hoạt động của các bộ phận trong hệ thống tạo nên âm thanh. Dựa trên các kết quả nghiên cứu khoa học và kinh nghiệm giảng dạy, các nhà sư phạm đã vận dụng kết hợp cả ba yếu tố hơi thở, cộng minh và cơ chế vào giảng dạy... có nghĩa là mỗi thời kỳ phương pháp sư phạm TN đã có sự biến chuyển mạnh mẽ để phù hợp với xu thế. 

1.2.1.1. Một số nhà sư phạm TNtiêu biểu thế giới

Giulio Caccini (1545-1618) 

Là một nhạc sĩ, một nhà sư phạm tiêu biểu cho trường phái âm nhạc Florence, Ý. 

Pietro Francesco Tosi (1647-1727)

Ông là ca sĩ castrato người Ý và là nhà sư phạm TN, đồng thời còn là một nhạc sĩ. Jean-Baptiste Bierar (1710 -1772)

1.2.1.2. Một số giọngSoprano tiêu biểu thế giới

Nezhdanova (1873-1950)

Antonina Vasilevna Nezhdanova sinh ngày 16 tháng 6 năm 1873  và mất ngày 26 tháng 6 năm 1950. Bà được coi là một trong những ca sĩ vĩ đại nhất của nền âm nhạc hàn lâm Nga cũng như Liên Xô sau này. 

Maria Callas (1923 –1977)

Maria Callas tên khai sinh là Sophia Cecelia Kalos. Sinhngày 2 tháng 9 năm 1923tại New York - Hoa Kỳ. 

1.2.2. Lịch sử đào tạo TN tại Việt Nam

Từ sau giải phóng Thủ đô Hà Nội, phong trào ca hát không chuyên của học sinh, SV phát triển khá rầm rộ. Từ phong trào ca hát không chuyên này đã trở thành nòng cốt của học sinh trường âm nhạc Việt Nam. Kết quả tốt đẹp đào tạo TN của những khóa trung cấp đầu tiên là dàn dựng và biểu diễn thành công vở opera cổ điển “Evgheni Oneghin” của nhạc sĩ cổ điển Nga P.Tchaikovsky. Tiếp sau đó, Bộ văn hóa đã chủ trương tuyển chọn một số ca sĩ trẻ cử đi đào tạo tại một số nước xã hội chủ nghĩa.

Tất cả những ca sĩ này khi trở về nước đều giữ những vai trò quan trọng trong các đơn vị biểu diễn nghệ thuật và đặc biệt tích cực đóng góp vào công tác đào tạo TN chuyên nghiệp trong nhiều năm sau.

1.2.2.1. Mộtsố nhà sư phạm Thanh nhạc tiêu biểu của Việt Nam

         GS. NSND Trung Kiên

Giáo sư Nguyễn Trung Kiên, sinh năm 1939 tại Kiến Xương - Thái Bình. Nguyên là Thứ trưởng Bộ Văn hóa, là một trong những giọng ca hàng đầu Việt Nam và đặc biệt thày là người có cống hiến to lớn cho sự phát triển của nền TN nước nhà với lượng công trình nghiên cứu đồ sộ. 

         NGUT Hồ Mộ La

Cô sinh năm 1931 tại Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An. Nguyên chủ nhiệm Khoa Thanh nhạc Trường Nghệ thuật Quân đội (nay là Đại học Nghệ thuật Quân Đội. Cô tốt nghiệp tại Nhạc viện Quốc gia Matxcơva mang tên Tchaicôpski (1959 - 1966)…

1.2.2.2. Một số nghệ sĩ giọng Soprano Việt Nam tiêu biểu

Lê Dung

Nghệ sĩ nhân dân Lê Dung (1951-2001) sinh ra ở Quảng Ninh, tên đầy đủ là Đoàn Lê Dung, là một giọng Soprano nổi tiếng có vị trí trong nền opera Việt Nam, là nghệ sĩ tiên phong cho nền âm nhạc cổ điển Việt Nam cả về trình diễn lẫn giảng dạy. 

Ca sĩ Phạm Khánh Ngọc

Phạm Khánh Ngọc sinh năm 1988 tại TP Hồ Chí Minh tốt nghiệp Thủ khoa bậc đại học chính quy chuyên ngành Biểu diễn TN với điểm 10 tuyệt đối tại Nhạc viện TP HCM, là một giọng Coloratura Soprano đầy triển vọng của dòng nhạc cổ điển thính phòng Việt Nam…

1.2.2.3. Những thành quả của công tác đào tạo thanh nhạc chuyên nghiệp Việt Nam.

 Trước tiên phải kể tới một đội ngũ lớn các ca sĩ, nghệ sĩ phục vụ cho hầu hết các đoàn ca nhạc từ không chuyên đến chuyên nghiệp. Một bộ phận lớn làm công tác đào tạo cho các trường chuyên nghiệp, bán chuyên nghiệp trong cả nước.

Số lượng các thí sinh tham dự và được xếp thành tích cao trong các cuộc thi thanh nhạc chiếm phần lớn là nữ.

         1.3. Thực trạng đào tạo giọng SopranoViệt Namchất lượng cao

1.3.1. Năng lực chuyên môn của GV.

1.3.1.1. Năng lực luyện kỹ thuật hát cho SV

1.3.1.2. Năng lực nghiên cứu nội dung và lựa chọn tác phẩm

1.3.1.3. Năng lực hiểu biết ngoại ngữ chuyên ngành 

         1.3.2. Thực trạng về giọng hát của sinh viên giọng Colorature Soprano

1.3.3. Về chương trình, giáo trình

1.3.4.  Phương pháp dạy học

         1.3.4.1. Phương pháp dạy của GV

         1.3.4.2. Phương pháp học của SV

         1.3.5. Cơ sở vật chất

Tiểu kết chương 1

Chúng tôi đã xây dựng cơ sở lý luận và nêu thực trạng đào tạo giọng Soprano qua một số vấn đề cụ thể như sau:

Thứ nhất, cơ sở lý luận: Nêu đặc điểm của giọng Soprano, vị trí, vai trò của giọng Soprano trong sự phát triển của lịch sử TN, khái quát về sự phát triển của nghệ thuật và đào tạo TN trên thế giới, một số nhà sư phạm TN kiệt xuất của thế kỷ XIX, một số nữ ca sĩ kiệt xuất của thế kỷ XX. Đã khái quát về sự phát triển sư phạm TN Việt Nam, trong đó thể hiện được tính kế thừa trong phát triển sư phạm TN thế giới và trong nước qua các thời kỳ, quá trình phát triển bộ môn đào tạo TN chuyên nghiệp 

Thứ hai, khái quát thực trạng đào tạo giọng Coloratura Soprano ở HVANQGVN qua một số vấn đề như: cơ sở vật chất, chương trình, giáo trình, phương pháp dạy học

CHƯƠNG 2. KỸ THUẬT VÀ TÁC PHẨM THANH NHẠC TRONG ĐÀO TẠO GIỌNG COLORATURE SOPRANO CHẤT LƯỢNG CAOTẠI HỌC VIỆN ÂM NHẠC QUỐC GIA  VIỆT NAM

2.1. Một số kỹ thuật thanh nhạc trong đào tạo giọng Colorature Sopranochất lượng cao

2.1.1. Một số yêu cầu chung cho việc thực hiện các kỹ thuật của giọng Colorrature Soprano

2.1.1.1. Hơi thở

Hơi thở là một trong những vấn đề vô cùng quan trọng trong đào tạo TN, là nền tảng thiết yếu trong ca hát, là nguồn năng lượng quan trọng cho giọng hát. 

Giai đoạn đầu, người học cần hiểu những vấn đề cơ bản, luyện tập để ổn định hơi thở. Sau khi đứng ở tư thế tốt, cơ thể thả lỏng, người học lấy hơi, sau đó khép miệng luyện âm ngậm với các giai điệu đơn giản. Giai đoạn đầu nên luyện với những mẫu âm liền bậc, bắt đầu với âm thấp như nói thông thường. 

Sau khi cảm nhận được luồng hơi thở ổn định sẽ tập với tốc độ tăng cường, có thể đổi các âm như “ưm” hoặc “hm” thành âm “ma”, “mi” để hơi thở tích cực hơn. Bài tập đơn giản này giúp luyện hơi thở tĩnh, trong quá trình thực hiện không để lồng ngực xẹp xuống. Hít hơi diễn ra tự nhiên và tĩnh. 

Tiếp theo, luyện mẫu âm đơn giản gắn với các nguyên âm.

2.1.1.2. Khẩu hình

Hoạt động mở khẩu hình

Trong giảng dạy TN nói chung, hoạt động mở khẩu hình tựu chung có hai cách mở cơ bản: Mở khẩu hình chiều dọc và mở khẩu hình chiều ngang.

Mở khẩu hình chiều dọc: Cả hai môi trên và môi dưới hơi đưa ra phía trước, được áp dụng ngay cả khi hát những nguyên âm i, ê, thông thường những nguyên âm này khi hát môi trên hơi nhếch lên.

Mở khẩu hình chiều ngang: Đó là cách mở khẩu hình được thực hiện trên cơ sở môi trên được nhấc lên, hở hàm răng trên, người ta gọi là khẩu hình cười. 

Ngoài ra, miệng không méo sang phải hoặc sang trái, khi phát âm không hoạt động như nhai sẽ dẫn tới nhược điểm hát không rõ lời, môi mềm mại hoạt động linh hoạt. Không chụm môi quá khi hát những nốt cao để tránh tình trạng âm thanh bị sâu và tối ngược lại không trễ môi dưới (hở hàm răng dưới) làm âm thanh bị bẹt hoặc mở miệng rộng thái quá. Tránh tình trạng hát mờ, phào hơi... Để khắc phục nhược điểm đó người dạy cho tập kết hợp nhiều nguyên âm với nhau và nên kèm theo phụ âm.

Việc kết hợp nguyên âm và phụ âm khi luyện thanh mang lại tác dụng rất tốt, đặc biệt giải quyêt các hiện tượng như âm thanh rít, bẹt, hát sâu.

Hoạt động của hàm ếch mềm

Hàm ếch mềm khi hát thực hiện vai trò như một cái van điều tiết đóng lối ra hốc mũi. Khi mở miệng, soi vào gương, tập nhấc hàm ếch mềm lên giống như khi ngáp. Hoạt động tích cực của hàm ếch mềm kết hợp với nén hơi tốt, rất có tác dụng khi hát những nốt ở âm khu trên nốt chuyển giọng. 

2.1.1.3. Vị trí âm thanh cộng minh

Vị trí âm thanh là nơi âm thanh phát ra tiếng vang, là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng để mang lại một âm thanh tốt. Những ca sĩ giọng Colorature Soprano khi hát những tác phẩm kinh điển, phức tạp, đặc biệt lại hát cùng dàn nhạc với quy mô lớn, nếu không đạt kỹ thuật cộng minh điêu luyện thì giọng hát sẽ bị âm thanh dàn nhạc lấn át giọng hát.Có thể nói, yếu tố cộng minh sẽ giúp những giọng nữ cao chuyên nghiệp có một âm sắc hoàn chỉnh thông qua tất cả các quãng của giọng. 

Cộng minh đầu:Là cảm giác âm thanh phát ra không phải âm vang từ miệng, mà ở chỗ cao hơn: Ở đầu, ở hốc mũi, ở trán.

         Cộng minh ngực:Được gọi một cách đơn giản là vang ngực. Đó là cảm giác rung ở lồng ngực khi hát. 

Do cao độ trong các trích đoạn trên ít thay đổi, liền bậc, ít nhảy quãng nên người học chỉ cần chú ý sắp xếp chuỗi ngữ âm của các âm tiết bằng sự lướt nhẹ của các nguyên âm, duy trì độ rõ nguyên âm khi thay đổi nguyên âm trước và sau, như vậy sẽ khuyến khích sự chú ý tới vị trí âm thanh, dễ dàng tạo cộng hưởng. 

Bắt đầu ở “Quando rapito trong estasi del piii cocente ardore” để luyện độ rõ nguyên âm, điều này sẽ giúp phát triển tốt kỹ thuật cộng minh. Yêu cầu vị trí âm thanh đặt nông với hơi thở sâu, nén chắc.

2.1.2. Một số kỹ thuật hát cơ bản cho giọng nữ cao Coloratura Soprano

2.1.2.1. Kỹ thuật hát cantilena: Cách hát liền hơi, tuôn trào.

         Trên đây là một số mẫu âm đơn giản và cơ bản trong luyện tập kỹ thuật cantilena. Khi hát các âm này người học cần đặt âm thanh nhẹ nhàng với hơi thở ổn định, ở giai đoạn đầu người dạy chỉ nên luyện tập cho SV những âm đơn giản như vậy để giúp người học ổn định vị trí, khi thuần thục mới đưa dần những mẫu âm phức tạp hơn, mở rộng quãng để giúp người học phát triển giọng hát.

 

Những mẫu luyện trên đây rất thích hợp cho sự phát triển của giọng Colorature Soprano. Trong các tác phẩm TN, những đoạn có giai điệu kiểu như bài tập trên cũng xuất hiện rất nhiều. 

2.1.2.2. Kỹ thuật hát staccato

Là cách hát âm nẩy.

Tập hát staccato còn là biện pháp sửa chữa những sai lệch về âm sắc như tật hát sâu, gằn cổ. Với yêu cầu linh hoạt, nhẹ nhàng, trong sáng của staccato, âm thanh bắt buộc phải có vị trí nông và cao, do đó có thể dần dần khắc phục âm thanh sâu, tối, gằn cổ. Ở giai đoạn khởi đầu, nên tập một số mẫu âm sau.

2.1.2.3. Kỹ thuật hát passage

Hát passage là cách hát những giai điệu một cách linh hoạt, rõ ràng và gọn với tốc độ nhanh. 

Để luyện tập kỹ thuật hát passage chúng tôi cũng chia làm hai giai đoạn, giai đoạn thứ nhất luyện những bài tập cơ bản, giai điệu đơn giản.

Hát những mẫu âm trên ở mức độ từ dễ tới khó, lúc đầu hát nhanh vừa phải và bắt đầu từ âm thấp quãng trung sau phát triển nhanh dần, luyện cao tới tầm nốt “sol”, “la” rồi luyện dần xuống nốt khởi điểm ban đầu. Yêu cầu hơi thở sâu, khẩu hình mở kết hợp phía trong và ngoài, hàm thả lỏng, cơ thể thoải mái. Sau khi nhuần nhuyễn sẽ tăng cường những mẫu âm khó và rất khó để phát triển giọng hát.

2.1.2.4. Kỹ thuật hát trillo

Trillo theo tiếng Ý có nghĩa là hát láy đi láy lại hai nốt liên tiếp với tốc độ rất nhanh. 

Dưới đây chúng tôi xin đưa ra một số bài tập luyện thanh phát triển kỹ thuật rung láy. 

Nhìn vào ví dụ trên cho thấy, âm láy rền thường xuất hiện ở quãng 2 thứ hoặc quãng 2 trưởng. Trong trích đoạn trên, tác giả sử dụng liên tục trong câu các âm láy rền tại các nốt c2; e2, d2, c2, a1,g1. với yêu cầu thực hiện luân phiên nên có phần phức tạp, đòi hỏi người hát cần có kỹ thuật vững, thả lỏng cơ thể và hát một cách chủ động để có thể thực hiện được tốt nhất yêu cầu đặt ra. 

         2.1.2.5. Kỹ thuật hát sắc thái to nhỏ  

Là cách hát nhỏ đi hoặc to dần trên một nốt nhạc một cách đều đặn, liên tục, không bị gẫy âm thanh, không ngắt quãng, không thay đổi vị trí cộng minh của âm thanh. 

Thời gian đầu người học nên luyện những mẫu âm đơn giản, chỉ cần thể hiện một trong hai sắc thái, to lên hoặc nhỏ xuống để quen dần với cách vận dụng các yêu cầu kỹ thuật chung về hơi thở, khẩu hình, vị trí âm thanh.

 

Sau khi biết cách xử lý những yêu cầu cơ bản khi hát kỹ thuật này, khi người học kiểm soát được âm thanh với hơi thở chắc chắn và đạt được sự ổn định của âm thanh cộng minh thì tiếp đến là thời điểm để luyện tập các bài tập khó hơn để kiểm soát cường độ của giọng hát. 

 2.2. Lựa chọn tác phẩm thanh nhạc trong đào tạo giọng Colorature Soprano chất lượng cao

Tác phẩm phải phù hợp với đặc điểm giọng Colorature Soprano.

Tác phẩm giầu tính nghệ thuật, nội dung đa dạng phong phú. 

Tác phẩm phải phù hợp với lộ trình phát triển của giọng hát

2.2.1. Những tác phẩm âm nhạc tiền cổ điển và cổ điển

Dành cho năm thứ nhất

W.A. Mozart (1756-1791): Cavatina Barbarina trích opera “Đám cưới Figaro”

G.Giordani (1744-1798): Em thân yêu(Caro mio ben) (arietta)…

Dành cho năm thứ hai

A.Scarlati (1660-1725): Aria “Amor preparani” Trích opera “Pompea” (1683).

L.Vinci (1690-1730) Teco, trích opera “La caduta dei Decemviri” (1727) …

Dành cho năm thứ ba

A. Campra (1660-1774) : Chan son du Papillon (Bài ca con bướm) trích opera - Balett, “Fetes Venitiennes” (ngày hội thành Vienice).

G.B.Pergolesi: “Stizzoso, mio stizzoso” trích opera “người hầu thành quý bà” (1733), Aria Serpina  trích opera “Người hầu thành quý bà”.

Dành cho năm thứ tư

 V.Bellini: Reitative và Aria Amina "Gran Dio, non mira" trích Op. "Sonnambula" (Người mộng du).

M. Glinka: Aria Ludmila "Tôi buồn" trích Op. "Ruslan và Lundmila"….

2.2.2. Những tác phẩm âm nhạc lãng mạn

Các tác phẩm âm nhạc lãng mạn, hậu lãng mạn điển hình kể đến cho các năm học như sau:

Dành cho năm thứ nhất 

C. Gounod : Serenade, Hãy đến những bãi cỏ đang xanh

E. Grieg : Bài hát Solvejg, Giấc mơ (Ein Traum)

F. Schubert : Em là nguồn yên tĩnh của tôi (Du bist die Ruhn), Ave Maria, Cô gái chèo thuyền (Auf dem Wasser zu singen)…

Dành cho năm thứ hai 

A. ALiabiev: Họa mi

L. Arditi: Parla –Valse

E. Del-Acua: Chim én

Dành cho năm thứ ba 

V.Bellini (1801-1835): Aria Norma trích opera “Norma”, Aria Amine “Ah’non credea mirarti” trích  opera “Sonnambula”.

G.Verdi (1813-1901): Aria Gilda “Caro Nome che il mio cor” trích opera “Rigoletto”, Aria Violetta “Ah, fors e lui che lamina” phần andantino trích opera “La traviata” …

Dành cho năm thứ tư 

G.Weyerbeer (1791-1864): Cavatina Pagen  trích opera “Hugenotten”

J. Strauss (1825 - 1899): Khúc hát Adele “Mein Herr Marquis” trích opera “Con dơi” (Die Fledermaus), Khúc hát Adele “Spiel’ich die Unschuld vom lande” trích opera “Con dơi”, Điệu valse mùa xuân (bài khó)…

2.2.3. Những tác phẩm Việt Nam

Dành cho năm thứ nhất

“Hạ Long biển nhớ” (Đỗ Hòa An)

“Trăng sáng đôi miền” (An Chung)

“Gặp nhau giữa rừng mơ” (Bảo Chung) …

Dành cho năm thứ hai:

“Bóng cây cơ nia” (Phan Huỳnh Điểu)

“Bài Ca Thống Nhất” (Võ Văn Di)

“Nhớ về quê mẹ” (Vân Đông)…

Dành cho năm thứ ba

“Bài Ca hi vọng” (Văn Ký)

“Tiếng hò trên đất Nghệ An” (Tân Huyền)

“Người Châu Yên bắn máy bay” (Trọng Loan)…

Dành cho năm thứ tư 

“Cô gái vót chông” (Hoàng Hiệp) 

 “Bài Ca Hà Nội” (Vũ Thanh)

“Người Hà Nội” (Nguyễn Đình Thi)…

         Tiểu kết chương 2

Xuyên suốt chương hai chúng tôi đề cập tới hai vấn đề lớn sau đây.

Thứ nhất, kỹ thuật TN: đây là một trong những nội dung trọng tâm, quan trọng quyết định tới chất lượng đào tạo. Chúng tôi nghiên cứu chia nội dung này làm hai phần: Những kỹ thuật cơ bản chung - là yếu tố nền móng cho mọi loại ca hát: hơi thở, khẩu hình và vị trí âm thanh cộng minh. Ba yếu tố này có mối quan hệ mật thiết tạo nên âm thanh đạt chất lượng tốt. Tiếp theo là những kỹ xảo ứng dụng trong đào tạo giọng Colorature Soprano bao gồm: Cantilena; Staccato; Passage, Trillo... đây là những yếu tố ứng dụng trong hầu hết các loại giọng hát đặc biệt với giọng Colorature Soprano. 

Thứ hai: Chúng tôi đã nghiên cứu và đặt ra các tiêu chí trong việc lựa chọn các tác phẩm TN dành cho giọng Coloraton Soprano trong đào tạo chất lượng cao. Các tác phẩm được phân chia theo lộ trình năm đào tạo bao gồm: tác phẩm tiền cổ điển, cổ điển, lãng mạn đến tác phẩm Việt Nam. 

 

CHƯƠNG 3. BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠOGIỌNG COLORATURE SOPRANO CHẤT LƯỢNG CAOTẠI VIỆT NAM

3.1. Một số biện pháp đổi mới

         3.1.1. Chất lượng đội ngũ giảng viên trong đào tạo giọng Colorature Soprano chất lượng cao

3.1.1.1. Nâng cao năng lực chuyên môn

Tham gia các lớp học ngắn hạn, giao lưu học tập chuyên gia nước ngoài.

         Nghe, học, nghiên cứu nhiều tác phẩm kinh điển dành cho giọng Soprano Coloratue

Nghiên cứu sách chuyên ngành

3.1.1.2. Nâng cao các năng lực bổ trợ

Về ngoại ngữ trong chuyên ngành

Về kiến thức âm nhạc tổng hợp

Về trình độ đàn Piano

3.1.1.3. Nâng cao năng lực sư phạm

         Giảng viên xác định rõ đối tượng đào tạo.

Năng lực lựa chọn nội dung dạy học.

         Ứngdụng phương pháp dạy học tích cực phát huy tínhchủ động, tư duy sáng tạo của người học.

+ Phương pháp thảo luận nhóm.

+ Phương pháp giải quyết vấn đề.

3.1.1.4. Nghiên cứu khoa học

Tóm lại, để hướng tới đào tạo đỉnh cao thì việc nâng cao năng lực của GV về mọi mặt là yếu tố nên được coi trọng hàng đầu. Không ai khác, người GV nên hiểu tầm quan trọng của việc này để không chỉ dừng lại ở một, hai năng lực mà là sự tổng hòa của nhiều năng lực với nhau, như vậy mới đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong đào tạo.

3.1.2. Yêu cầu về năng lực của SV

3.1.2.1.Về năng lực chuyên môn

3.1.2.2. Về năng lực các môn bổ trợ

Học tập nghiêm túc để nắm vững kiến thức âm nhạc tổng hợp.

Học phát âm tiếng Ý, Đức, Nga, Pháp

3.1.2.3. Nâng cao năng lực xử lý tác phẩm và biểu diễn

Về xử lý tác phẩm

Về năng lực biểu diễn tác phẩm

3.1.2.4. Về năng lực tự học

         Biết cách lập kế hoạch học tập.

         Cần biết lập kế hoạch sử dụng thời gian.

         Biết cách tận dụng thời gian học trên lớp.

Dạy cách tự học.

           3.1.2.5. Yêu cầu về sức khỏe

Nói chung, thực tế đã chỉ ra rằng, sức khỏe có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của giọng hát. Do vậy, nên tiêu chuẩn hóa với người học ngay từ khi tuyển sinh, trong quá trình đào tạo. Ngoài tiêu chí năng khiếu/tài năng thì nên bổ sung tiêu chí sức khỏe/thể trạng của các thí sinh khi tuyển sinh đầu vào khoa TN. 

3.1.3. Về chương trình, giáo trình đào tạo chất lượng cao

Thứ nhất: Phân rõ đào tạo bậc đại học theo hai chuyên ngành.

Thứ hai: Tổ chức biên soạn, điều chỉnh giáo trình

3.1.4. Tiêu chí kiểm tra đánh giá trong đào tạo giọng Colorature Soprano

Quá trình học tập trên lớp

Thông qua quá trình tự học

Thông qua sự nhận biết các kiến thức đã học

Thông qua khả năng vận dụng kiến thức

Thông qua khả năng đánh giá và xác định giá trị.

3.2. Hội nhập quốc tế trong đào tạo giọng Colorature Soprano chất lượng cao

Nhiệm vụ đặt ra là phải tăng cường, chủ động hợp tác và giao lưu quốc tế về lĩnh vực TN trong thời gian tới. Chủ động hợp tác với các nước để đào tạo tài năng nghệ thuật biểu diễn âm nhạc đỉnh cao, đào tạo cán bộ chuyên môn trình độ cao để đào tạo và đào tạo lại. Chú trọng và đầu tư thoả đáng cho việc đào tạo tài năng nghệ thuật biểu diễn cả ở trong và ngoài nước. 

Như vậy, nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt là đào tạo chất lượng cao, ngoài việc đổi mới căn bản, toàn diện các vấn đề thuộc phạm vi đào tạo trong nước thì hội nhập quốc tế là nhiệm vụ quan trọng không thể tách rời. 

3.2.1. Những mặt thuận lợi trong công tác hội nhập quốc tế

HVANQGVN trong những năm qua đã cử nhiều tài năng tham gia các cuộc thi âm nhạc thế giới đồng thời tổ chức nhiều cuộc thi âm nhạc hàn lâm mang quy mô quốc tế thu hút được sự tham gia của nhiều nước trong khu vực và thế giới. Hoạt động này đã giúp cho việc đào tạo và phát triển nhiều tài năng âm nhạc cho nhà trường nói chung và đất nước nói riêng. Trong lĩnh vực TN, đặc biệt là giọng Colorature Soprano cũng đã có những giải thưởng cao. 

3.2.2. Một số hạn chế trong hội nhập quốc tế

Tư tưởng học tập nâng cao năng lực chuyên môn ở trong và ngoài nước đối với nhiều GV và SV còn chưa cao

Ý thức giao lưu, học hỏi của GV, SV chưa cao.

Chưa có chính sách ưu đãi, thu hút nhân tài.

3.2.3.  Đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo giọng Colorature Soprano trong hội nhập quốc tế

Nên xây dựng kế hoạch chi tiết cho từng năm và giai đoạn để thực hiện hiệu quả các nguồn lực ngân sách nhà nước cũng như các mô hình đào tạo. Chuẩn bị cử các thí sinh đi dự thi các cuộc thi hát chuyên nghiệp thế giới là kế hoạch phức tạp và lâu dài, không thể tùy hứng, phải nghiên cứu kỹ từng cuộc thi với những yêu cầu về nội dung cụ thể để kịp thời cử các thí sinh đi dự thi. Thời gian chuẩn bị cho từng cuộc thi phải có từ hai năm trở lên mới mang lại kết quả tốt. 

Cử SV giọng Colorature Soprano tài năng xuất sắc đi học tập hoặc tu nghiệp ở các trung tâm đào tạo âm nhạc phát triển trên thế giới. 

          Xây dựng mô hình liên kết đào tạo với các quốc gia, trung tâm đào tạo quốc tế trong lĩnh vực TN.

           Tăng cường giao lưu sư phạm và biểu diễn nghệ thuật TN với các chuyên gia, nghệ sĩ nước ngoài.

           Tăng cường tổ chức các hội nghị, hội thảo khoa học quốc tế. Để tạo thêm cơ hội trao đổi, giao lưu học thuật, chia sẻ kinh nghiệm trong lĩnh vực đào tạo, biểu diễn và nghiên cứu khoa học đối với giọng Colorature Soprano. 

           Nâng cao chất lượng sáng tác các tác phẩm TN, sử dụng các tác phẩm có chất lượng nghệ thuật caolà những chủ trương của ngành văn hóa, các cơ sở đào tạo âm nhạc nhằm đưa công tác này ngày càng quy củ, phù hợp với các chuẩn mực khu vực và quốc tế.

3.3. Thực nghiệm sư phạm

3.3.1 Mục đích

       Nội dungvà đối tượngthực nghiệm

GV thực hiện: Nguyễn Thị Tân Nhàn

3.3.2. Thời gian:Thực nghiệm triển khai, từ 2016- 2018.

3.3.3. Tiến hành thực nghiệm

Tiểu kết chương 3

Thứ nhất: Bồi dưỡng năng lực GV. Chúng tôi đề cao năng lực người thầy trong đào tạo chất lượng cao, người thầy cần đạt các năng lực cao về chuyên môn TN, năng lực sư phạm và năng lực nghiên cứu khoa học. 

Thứ hai. Yêu câu của về năng lực SV. Không có những năng lực cần thiết thì không thể hướng tới đào tạo chất lượng cao. Đối với SV, quan trọng nhất là tiêu chí về giọng hát, ngoài ra, SV cần nâng cao các năng lực như: Tự học, xử lý tác phẩm, các môn bổ trợ... 

Thứ 3. Sự đổi mới trong chương trình, giáo trình, phần này chúng tôi mới dừng lại ở việc đưa ra đề xuất về thay đổi giáo trình, việc triển khai cụ thể sẽ là công việc nghiên cứu trong giai đoạn tiếp theo. 

Thứ 4. Nghiên cứu đưa ra tiêu chí đánh giátrong đào tạo chất lượng cao, việc đánh giá dứng sẽ là động lực để phát triển trong đào tạo.

Thứ 5. Vấn đề hội nhập quốc tế, có hội nhập mới có phát triển để không bị lạc hậu so với các quốc gia trên thế giới, ngoài ra, hội nhập quốc tế đặt ra nhiều thách thức và cơ hội khác nhau. 

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

KẾT LUẬN

Đã làm rõ những đặc trưng của giọng Soprano Việt Nam và xác định rõ tiềm năng phát triển và hội nhập quốc tế của các giọng Soprano Việt Nam qua thực tiễn hoạt động đào tạo, biểu diễn, các thành tích đạt được trong các kỳ thi, hội diễn chuyên môn ở phạm vi quốc gia và quốc tế. 

Trên cơ sở sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành, luận án đã tổng quan, đánh giá, khảo sát thực tế nhằm nghiên cứu thực trạng những khó khăn, hạn chế trong công tác đào tạo TN nói chung trong đó có đào tạo giọng Colorature Soprano để từ đó đề xuất những giải pháp sư phạm TN cho yêu cầu phát triển đúng đắn về kỹ thuật và nghệ thuật cho đào tạo các giọng Soprano của Việt Nam.

Luận án đã đề ra một số biện pháp đổi mới nâng cao chất lượng đào tạo thông qua các yếu tố cơ bản: Bồi dưỡng năng lực GV; yêu cầu cần thiết đối với SV cùng những vấn đề thuộc vai trò định hướng của nhà trường trong đào tạo chất lượng cao nói chung. Luận án cũng bước đầu đề xuất đề cương giáo trình [Phụ lục 2], các tác phẩm chọn lọc (quốc tế và tác phẩm Việt Nam) cho đào tạo những giọng Colorature Soprano Việt Nam chất lượng cao.

Trên cơ sở phân tích mục tiêu quan trọng của công tác hội nhập quốc tế trong lĩnh vực TN, luận án đã đề ra những giải pháp để nâng cao chất lượng đào tạo TN chuyên nghiệp và kế hoạch đào tạo, phát triển giọng Soprano Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế. 

KIẾN NGHỊ

Một là, các cơ quan quản lý nhà nước, HVANQGVN nên ghi nhận những đóng góp quan trọng của công tác đào tạo, phát triển TN, trong đó có giọng colorature Soprano trong quá trình phát triển nghệ thuật TN Việt Nam trong thời gian qua. 

Hai là, nên chú trọng đổi mới toàn diện nội dung, chương trình, kế hoạch đào tạo theo hướng tăng chất lượng ở các khâu tuyển sinh, đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng chương trình giảng dạy, giáo trình, các hoạt động hỗ trợ đào tạo.

Ba là, các cơ quan quản lý nhà nước, HVANQGVN tạo điều kiện về đào tạo đội ngũ, cơ sở vật chất, hỗ trợ nâng cấp, hoàn thiện giáo trình chuyên sâu, tài liệu bổ trợ đào tạo cũng như các điều kiện đảm bảo cho hoạt động đào tạo giọng Colorature Soprano tại HVANQGVN. Bốn là, cần tiếp tục các nghiên cứu chuyên sâu, kinh nghiệm quốc tế, tổng kết, đánh giá các mô hình, kinh nghiệm đào tạo … nhằm phục vụ cho công tác đào tạo giọng nữ cao theo hướng chuyên nghiệp tại HVANQGVN.

Đầu trang
  
English


Các khoa, bộ môn
Khoa Piano
Khoa Dây
Khoa Kèn - Gõ
Khoa Accordion - Guitar- Organ
Khoa nhạc Jazz
Khoa Thanh nhạc
Khoa Nhạc cụ Truyền thống
Khoa Lý luận - Sáng tác - Chỉ huy
Khoa Kiến thức Âm nhạc
Khoa Kiến thức Đại cương
Khoa Văn hoá

Quảng cáo
Liên hệ quảng cáo
HỌC VIỆN ÂM NHẠC QUỐC GIA VIỆT NAM
77 Hào Nam, Đống Đa, Hà Nội
ĐT: +844 3851 4969 / 3856 1842 - Fax: +844 3851 3545
Website: www.vnam.edu.vn - Email: hvan@vnam.edu.vn